|
Thành phố Hà Nội
Diện tích:
921 km²
Dân số:
3.145.200
người (năm 2005)
Các quận/huyện:
- Quận:
Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà
Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng
Mai.
- Huyện:
Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm.
Dân tộc:
Việt (Kinh), Hoa...
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong
khoảng từ 20º25' đến 21º23' vĩ độ Bắc, 105º15' đến
106º03’ kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh: Thái
Nguyên ở phía bắc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở
phía đông và đông nam, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía tây.
Hà Nội có khoảng cách dài nhất từ phía bắc xuống phía
nam là trên 50km và chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30km.
Ðiểm cao nhất là núi Chân Chim: 462m (huyện Sóc Sơn);
nơi thấp nhất thuộc phường Gia Thụy (quận Long Biên) 12m
so với mặt nước biển.
Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc
Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vị trí và
địa thế đẹp, thuận lợi để là một trung tâm chính trị,
kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan
trọng của cả nước.
Khí
hậu :
Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với
đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng,
mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt
đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt
trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng
cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2
và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6ºC. Do
chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa
khá lớn. Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79%.
Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có
khoảng 114 ngày mưa. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất
là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ
tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa. Nhiệt độ trung
bình mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau
là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình
mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ
chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên có thể nói
rằng Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Bốn mùa
thay đổi như vậy đã làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong
phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay. Mùa tham quan
tốt nhất ở Hà Nội là mùa thu, rất thích hợp với du khách
ở những vùng hàn đới.
Địa hình:
Hà Nội bao gồm hai loại địa hình đồng bằng và trung du
Bắc Bộ. Phần đồng bằng theo hai bờ sông Hồng và chi lưu
(sông Ðuống, sông Ðáy...) là chủ yếu. Phần trung du gồm
huyện Sóc Sơn và một phần huyện Ðông Anh, kéo dài về
phía đồng bằng của núi Tam Ðảo, có độ cao từ 7-10m đến
vài trăm mét so với mực nước biển. Vì vậy địa hình Hà
Nội có độ nghiêng theo hướng Bắc Nam (từ Sóc Sơn - Ðông
Anh về Thanh Trì).
Hà Nội có dãy Sóc Sơn (núi Sóc) là đợt kéo dài của khối
Tam Ðảo, với ngọn cao nhất là 308m. Núi này có các tên
gọi khác nhau như núi Mã, núi Ðền (vì đỉnh núi có đền
Sóc, tương truyền là nơi Thánh Gióng thăng hoá cùng với
ngựa sắt về trời), núi Vệ Linh. Núi Sóc tọa lạc tại xã
Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Ngoài núi Sóc, Hà Nội còn có
một số đồi núi khác đột khởi lên giữa đất bằng như núi
Sái (xã Thuỵ Lâm, huyện Ðông Anh), núi Phục Tương (xã Cổ
Bi, huyện Gia Lâm), và ở trung tâm Hà Nội, thuộc vùng
Bách thảo có núi Nùng, còn gọi là Long Ðỗ hay núi Khán,
tạo nên dáng vẻ cho thế đất Thăng Long xưa.
Sông
ngòi:
Hà Nội nằm ở trung tâm của tam giác chảy sông Hồng. Sông
Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Ðoạn
sông Hồng qua Hà Nội dài 40km từ huyện Ðông Anh đến hết
huyện Thanh Trì. Sông Ðuống là con sông lớn thứ hai của
Hà Nội, tách ra khỏi sông Hồng từ ngã ba Xuân Canh (xã
Xuân Canh, Ðông Anh) rồi qua phường Ngọc Thuỵ, xã Yên
Thường, cắt quốc lộ 1A ở Cầu Ðuống, qua đất Gia Lâm 17km
rồi sang đất Bắc Ninh đổ vào sông Thái Bình.
Ngoài hai con sông lớn đó, đất Hà Nội có nhiều dòng chảy
khác, tuy nhỏ và ngắn song gắn chặt với lịch sử lâu đời
của Hà Nội. Ðó là sông Tô Lịch, gắn với sự hình thành
của Hà Nội từ hơn 1.500 năm trước. Dòng chảy cũ liền với
sông Hồng ở đầu phố chợ Gạo đã bị lấp từ đầu thế kỷ 20,
nay chỉ còn đoạn chảy giữa phố Thuỵ Khuê-Hoàng Hoa Thám,
lên đến chợ Bưởi, rồi chảy ngoặt về phía nam Cầu Giấy,
Ngã Tư Sở, xuôi về Cầu Bươu, hợp với sông Nhuệ, sông
Thiên Ðức, sông Nghĩa Trụ, sông Cheo Reo, Ngũ Huyện
Giang, sông Kim Ngưu...
Ðầm hồ ở Hà Nội cũng nhiều, lớn như Hồ Tây, nhỏ như hồ
Hoàn Kiếm, hồ Thủ Lệ, hồ Bảy Mẫu, hồ Kim Liên, hồ Liên
Ðàm, đầm Vân Trì...
Dân cư
Ở các huyện ngoại thành và một phần quận Tây Hồ, dân cư
chủ yếu là người dân gốc. Còn ở các quận cũ của nội
thành, dân cư hầu hết đều tập hợp từ các tỉnh, thành
khắp đất nước về sinh sống và làm việc trong các cơ quan
Trung ương. Cư dân Hà Nội chủ yếu là người Việt, song
cũng có một số dân tộc ít người khác.
Chính những lợi thế về dư địa chí đã tạo cho Hà Nội một
khả năng giao lưu trong nước và quốc tế thuận lợi. Chính
những bàn tay, khối óc cần cù, sáng tạo của cư dân Hà
Nội xưa và nay đã tạo cho Hà Nội một vị trí xứng đáng là
trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa và du lịch, là thủ
đô của nước Việt Nam, một trong những thủ đô hấp dẫn
trên thế giới.
Giao thông
Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng
một hệ thống giao thông thuận tiện.
Đường không:
có sân bay quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc Sơn, cách
trung tâm thành phố chừng 35km). Cùng với Nội Bài còn có
sân bay Gia Lâm (cách Hà Nội chừng 8km), vốn là sân bay
chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây
giờ nơi đây là ga sân bay trực thăng sẵn sàng phục vụ
cho du khách những tour du lịch tới các điểm tham quan
hấp dẫn.
Đường
bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các
bến xe phía Nam, Kim Mã, Gia Lâm toả đi khắp mọi miền
trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam; quốc
lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang; quốc
lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng,
Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu…
Đường sắt:
Hà Nội cũng là đầu mối giao thông đường sắt trong nước
và có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc) rồi
đi Châu Âu...
Đường thuỷ:
Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà
Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì : có bến
Hàm Tử Quan đi Phả Lại.
Không phải Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 mới có được bấy
nhiêu điều kiện thuận lợi mà từ lâu, từ ngày vua Lý Thái
Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Ðại La để lập kinh đô
Thăng Long vào tháng bảy năm Canh Tuất (1010), trong
"Chiếu dời đô", vị vua khai sáng triều Lý (1010-1225)
đồng thời khai sáng cho Thăng Long-Hà Nội đã chỉ ra.
Thành phố Hồ Chí Minh
Diện tích:
2.095,2
km²
Dân số:
5.891.100
người (năm 2005)
Các quận, huyện:
-
Quận:
Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7,
Quận 8, Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12, Tân Bình,
Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân, Tân
Phú.
- Huyện: Nhà
Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh.
Dân tộc:
Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chăm
Điều kiện tự nhiên
Lãnh
thổ thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10º22'13" –
11º22'17" vĩ độ Bắc và 106º01'25" – 107º01'10" kinh độ
Đông. Phía bắc giáp Tây Ninh, Bình Dương, phía đông giáp
Đồng Nai, phía nam giáp biển Đông và Tiền Giang, phía
tây giáp Long An.
Thổ
nhưỡng:
Đất của thành phố chủ yếu là phù sa cũ và phù sa mới tạo
lập nên.
Sông
ngòi:
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có
hàng trăm sông ngòi, kênh rạch nhưng sông lớn không
nhiều, lớn nhất là sông Sài Gòn mà đoạn chảy qua thành
phố dài 106km. Hệ thống đường sông từ thành phố Hồ Chí
Minh lên miền Đông và xuống các tỉnh miền Tây, sang
Cam-pu-chia đều thuận lợi.
Thành phố có 15km bờ biển.
Khí hậu:
hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng
mưa bình quân năm 1.979mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 27,55ºC, không có mùa
đông.
Tiềm năng phát triển du lịch
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn
nhất nước, thu hút hàng năm 70% lượng khách quốc tế đến
Việt Nam. Sở dĩ như vậy vì ngoài cơ sở hạ tầng khá tốt,
giao thông tương đối thuận tiện, thành phố là một nơi có
tài nguyên du lịch phong phú. Nơi đây là một vùng đất
gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc
kể từ khi thực dân Pháp đặt chân lên Việt Nam. Thành phố
Hồ Chí Minh cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra
đi tìm đường cứu nước (1911). Gắn liền với sự kiện đó,
cảng Nhà Rồng và Bảo tàng Hồ Chí Minh là một di tích
quan trọng, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài
nước. Các di tích cách mạng khác như địa đạo Củ Chi, hệ
thống các bảo tàng, nhà hát, nhà văn hoá, các công trình
kiến trúc thời Pháp là những điểm du lịch hấp dẫn. Gần
đây thành phố đã đầu tư nhiều khu du lịch như Thanh Đa,
Bình Qưới, nhiều khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Kỳ
Hoà, công viên Nước, Suối Tiên,... đã thu hút và hấp dẫn
du khách. Hiện nay, thành phố đang tiến hành tôn tạo các
di tích lịch sử, các công trình kiến trúc cổ, đầu tư cho
hệ thống bảo tàng, khôi phục nền văn hoá truyền thống
kết hợp với tổ chức các lễ hội, khôi phục văn hoá miệt
vườn, làng hoa để phát triển một cách vững chắc ngành du
lịch của thành phố.
Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố Hồ
Chí Minh có nhiều công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng,
đền Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện, hệ
thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác Lâm, chùa Bà Thiên
Hậu, chùa Tổ Đình Giác Viên...), hệ thống các nhà thờ cổ
(Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức...). Nhìn
chung, một trong những đặc trưng văn hoá của 300 năm
lịch sử đất Sài Gòn - Gia Định, nơi hội tụ nhiều dòng
chảy văn hoá, là "cơ cấu kiến trúc" Việt - Hoa - châu
Âu. Một nền văn hoá kết hợp hài hoà giữa truyền thống
dân tộc của người Việt với những nét đặc sắc của văn hoá
phương Bắc và phương Tây.
Giao thông
Thành
phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông của cả miền Nam
bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không.
Từ thành phố đi Hà Nội có quốc lộ 1A, đường sắt Thống
nhất và quốc lộ 13 xuyên Đông Dương.
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ cách trung tâm thành
phố 7km, là sân bay lớn nhất nước với hàng chục đường
bay nội địa và quốc tế. Có các đường bay nội địa từ Tp.
Hồ Chí Minh tới Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Đà Nẵng, Hà Nội,
Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Phú Quốc, Pleiku, Quy Nhơn,
Rạch Giá, Vinh.
Tp. Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km, cách Tây Ninh
99km, Biên Hòa (Đồng Nai) 30km, Mỹ Tho 70km, Vũng Tàu
129km, Cần Thơ 168km, Đà Lạt 308km, Buôn Ma Thuột 375km.
Thành phố Đà Nẵng
Diện tích:
1.255,5
km²
Dân số:
777.100
người (năm 2005)
Các quận, huyện:
- Quận:
Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu,
Cẩm Lệ.
- Huyện:
Hoà Vang, Hoàng Sa
Dân tộc:
Việt (Kinh), Hoa, Cờ Tu, Tày...
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, phía bắc giáp
tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng
Nam, phía đông giáp biển Đông.
Địa
hình thành phố Đà Nẵng khá đa dạng: phía bắc là đèo Hải
Vân hùng vĩ, vùng núi cao thuộc huyện Hòa Vang (phía tây
bắc của tỉnh) với núi Mang 1.708m, núi Bà Nà 1.487m.
Phía đông là bán đảo Sơn Trà hoang sơ và một loạt các
bãi tắm biển đẹp trải dài từ bán đảo Sơn Trà đến bãi
biển Non Nước. Phía nam có núi Ngũ Hành Sơn. Ngoài khơi
có quần đảo Hoàng Sa với ngư trường rộng lớn.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chia 2 mùa rõ rệt, mùa
mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm từ 28ºC– 29ºC,
bão thường đổ bộ trực tiếp vào thành phố các tháng 9, 10
hàng năm.
Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Thành phố Đà Nẵng được thành lập từ năm 1888, từ xa xưa
đã là hải cảng quan trọng của Việt Nam, nay là một trung
tâm kinh tế, một thành phố lớn nhất miền Trung. Đà Nẵng
không chỉ gắn bó mật thiết với Quảng Nam mà còn với cả
miền Trung, Tây Nguyên, nam Lào, đông bắc Cam-pu-chia.
Đà Nẵng có khu vực cảng Đà Nẵng với cảng biển Tiên Sa
(cảng sâu) và 9 cầu cảng dọc sông Hàn, có sân bay quốc
tế Đà Nẵng, có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại. Đà
Nẵng còn là nơi hội tụ các xí nghiệp lớn của các ngành
dệt, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến, công
nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Đến với vùng đất Đà Nẵng, du khách sẽ có dịp đi thăm các
danh lam thắng cảnh nổi tiếng như núi Bà Ná, Ngũ Hành
Sơn, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà... và có thể bơi lội
thoả thích ở các bãi biển đẹp, cát trắng mịn kéo dài
hàng chục ki lô mét. Tiềm năng du lịch của vùng đất Đà
Nẵng thật to lớn.
Giao thông
Thành phố Đà Nẵng nằm trên
trục đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không
của cả nước và khu vực. Đà Nẵng nằm trên tuyến đường sắt
Bắc Nam và quốc lộ 1A, cách Hà Nội 763km. Từ Đà Nẵng có
các chuyến bay đi Hà Nội, Hồ Chí Minh, Nha Trang, Buôn
Ma Thuột, Pleiku. Có 5 đường bay quốc tế trực tiếp đến
Đà Nẵng đã được mở từ Bangkok, Hong Kong, Siêm Riệp, Đài
Bắc và Singapore với 5 hãng hàng không: Vietnam
Airlines, PB Air, Siem Riep Air way, Far Transportasion
và Sil Airway
Thành phố Hải Phòng
Diện tích:
1.526,3
km²
Dân số:
1.792.600
người (năm 2005)
Các quận, huyện, thị xã:
- Quận:
Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân, Kiến An, Hải An.
- Huyện:
Thủy Nguyên, An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng,
Vĩnh Bảo, Cát Hải, Bạch Long Vĩ.
- Thị xã: Đồ
Sơn
Dân tộc:
Việt (Kinh), Hoa, Tày, Nùng...
Điều
kiện
tự
nhiên
Thành phố biển Hải Phòng, một trong những trung tâm du
lịch lớn của Việt Nam, nằm bên bờ biển Đông - Thái Bình
Dương; phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp
biển Đông, phía tây giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp
tỉnh Thái Bình.
Hải Phòng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ
trung bình 23ºC - 24ºC, lượng mưa hàng năm 1.600 –
1.800mm, quanh năm thời tiết ấm áp, bốn mùa cây trái
xanh tươi.
Tiềm
năng phát triển
du lịch
Với di
chỉ khảo cổ Cái Bèo (Cát Bà) chứng tỏ mảnh đất này cách
đây trên 6.000 năm đã có người sinh sống. Hiện nay, Hải
Phòng còn giữ được nhiều di tích lịch sử, nhiều danh lam
thắng cảnh, nhiều đền, chùa, lăng miếu và lễ hội Chọi
trâu, một lễ hội độc đáo, nổi tiếng của Đồ Sơn.
Hải Phòng nằm trong tuyến du lịch Hà Nội - Hải Phòng -
vịnh Hạ Long. Hải Phòng có khu nghỉ mát Đồ Sơn vươn ra
biển tới 5km. Từ Đồ Sơn bằng tàu cao tốc, du khách có
thể tới thăm đảo và vườn quốc gia Cát Bà, thăm vịnh Bái
Tử Long và vịnh Hạ Long (Quảng Ninh).
Giao thông
Hải
Phòng có một cảng biển lớn nằm trên đường hàng hải quốc
tế Đông - Tây, Bắc - Nam. Là một đầu mối giao thông quan
trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng
không trong nước và quốc tế.
-
Đường bộ:
Hải
Phòng
cách Hà Nội 102km theo quốc lộ 5. Hải Phòng nằm trong
trục đường quốc lộ 10: Thái Bình -Hải Phòng- Quảng Ninh.
-
Đường sắt :
Hàng ngày đều có các chuyến tàu Hà Nội - Hải Phòng – Hà
Nội.
-
Đường thuỷ:
Có tuyến tàu thuỷ Hải Phòng - Hạ Long – Cát Bà – Móng
Cái.
-
Hàng không:
Hàng ngày có chuyến bay Tp. Hồ Chí Minh - Hải Phòng.
Thành phố Cần Thơ
Diện tích: 1.390 km²
Dân số:
1.135.200 người (năm 2005)
Các quận, huyện:
- Quận:
Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn.
- Huyện:
Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh.
Dân tộc:
Việt (Kinh), Khmer, Hoa, Chăm...
Điều
kiện
tự
nhiên
Thành
phố Cần Thơ nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long,
giữa một mạng lưới sông ngòi kênh rạch. Cần Thơ tiếp
giáp với 5 tỉnh: phía bắc giáp An Giang và đông bắc giáp
Đồng Tháp, phía nam giáp Hậu Giang, phía tây giáp Kiên
Giang, phía đông giáp Vĩnh Long.
Cần Thơ
có nhiều hệ thống sông ngòi kênh rạch như sông Hậu, sông
Cần Thơ, kênh Thốt Nốt, rạch Ô Môn... Khí hậu Cần Thơ
điều hoà dễ chịu, ít bão. Quanh năm nóng ẩm, không có
mùa lạnh.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ
tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung binh là
27ºC.
Tiềm
năng phát triển
kinh tế
và du lịch
Thành phố Cần Thơ có 3 bến cảng có thể
tiếp nhận tàu trên 10.000 tấn
phục vụ cho việc xếp nhận hàng hóa dễ dàng. Từ xa
xưa Cần Thơ đã được coi là trung tâm lúa gạo của miền
Tây Nam bộ, hiện nay là một trong những nơi sản xuất và
xuất khẩu gạo chính của cả nước.
Với đất đai phì nhiêu, bên cạnh thế mạnh về cây lúa và
cây ăn quả các loại, Cần Thơ còn có nguồn thủy sản khá
phong phú, chủ yếu tôm cá nước ngọt và chăn nuôi: lợn,
gà, vịt. Các ngành công nghiệp hiện có chủ yếu là điện
năng (nhà máy điện Trà Nóc, 33.000 kw); kỹ thuật điện,
điện tử, hoá chất, may, da và chế biến nông sản, thủy
sản... là thế mạnh của tỉnh.
Địa danh Cần Thơ có xuất xứ từ tên “cầm thi giang” (sông
thơ, đàn) cho thấy đây là vùng văn hoá sông nước. Con
sông gắn liền với mọi hoạt động kinh tế, văn hoá cư dân.
Nét độc đáo tự nhiên và kiến trúc đô thị của Cần Thơ là
mạng lưới kênh rạch. Kênh rạch cũng là "đường phố", nó
mang vẻ đẹp cho một đô thị lớn từng được mệnh danh là
Tây Đô. Cần Thơ lại có vẻ đẹp bình dị nên thơ của làng
quê sông nước, dân cư tập trung đông đúc, làng xóm trù
phú núp dưới bóng dừa. Cần Thơ nổi tiếng với bến Ninh
Kiều, vườn cò Bằng Lăng.
Tp. Cần Thơ tập trung nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu
khoa học - công nghệ. Đã từ lâu, nơi đây là trung tâm
kinh tế - văn hoá của các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Dân tộc,
tôn giáo
Cần Thơ có nhiều nét đặc sắc, độc đáo của văn hoá đồng
bằng Nam Bộ được kết hợp hài hoà các sắc thái văn hoá
truyền thống của người Việt, Khmer, Hoa...
Giao thông
Cần Thơ
cách Vĩnh Long 34km, Long Xuyên 62km, Sóc Trăng 63km, Mỹ
Tho 104km, Rạch Giá 116km, Châu Đốc 117km, thành phố Hồ
Chí Minh 169km và Cà Mau 179km.
Đường bộ:
Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là quốc lộ 1A,
quốc lộ 91 đi An Giang; quốc
lộ 80 đi Kiên Giang. Bến xe buýt
cách trung tâm thành phố khoảng 2km về phía tây bắc, dọc
theo đường Nguyễn Trãi.
Đường thủy:
Cần Thơ là trung tâm giao thông thủy bộ của cả vùng Nam bộ, nối liền với
Cam-pu-chia. Thành phố có cảng quốc tế Cái Cui khá lớn
tiếp nhận tàu 5.000 tấn.
Đường không:
Sân
bay Trà Nóc.
|